Mô hình giảm nghèo hiệu quả

Cao Bằng: Tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao

04/12/2018 10:51 SA Xem cỡ chữ
(Mic.gov.vn) - 

Cao Bằng có khoảng 140.942 ha đất có khả năng phát triển nông nghiệp, chiếm 21% diện tích tự nhiên. Nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa và nâng cao thu nhập cho nông dân, ngành nông nghiệp của tỉnh đang từng bước tạo ra những đột phá để phát triển ổn định và bền vững dựa trên tiềm năng, thế mạnh của địa phương.


20181204-l4.jpg

Vùng chè chất lượng cao tại Phja Đén (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng)

Hiện nay, tỉnh đang thực hiện Chương trình số 08-CTr/TU, ngày 29/4/2016 của Tỉnh ủy về tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Ngành nông nghiệp của tỉnh đã khai thác tiềm năng, thế mạnh các địa phương trong tỉnh nhằm chuyển hướng sản xuất từ chiều rộng sang chiều sâu, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm nhằm tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất theo hướng hàng hóa. Duy trì và sử dụng hiệu quả 30.000 ha đất trồng lúa, tập trung phát triển giống lúa đặc sản, đặc hữu, lúa thuần chất lượng cao trở thành hàng hóa. Phát triển các cây trồng mũi nhọn, như: chuối, cam, quýt, dẻ, hồi, thanh long, gừng, dâu tằm, chè búp... với hơn 7.000 ha, tăng 0,55% so với diện tích năm 2015. Hiện một số dự án nông nghiệp đang triển khai tại vùng Phja Oắc, Phja Đén (Nguyên Bình), tiêu biểu là Công ty TNHH Kolia phát triển hàng chục ha chè chất lượng cao, canh tác hữu cơ, không dùng phân bón hóa học; đầu tư nhà xưởng và hệ thống máy móc hiện đại, với công suất 1 tấn chè khô/ngày; sản phẩm chè Phja Đén tham dự nhiều hội chợ Việt Nam và quốc tế. Dự kiến, năm 2020 sẽ phát triển mở rộng hơn 200 ha chè sạch đặc sản. 

Từ năm 1994 đến nay, được sự quan tâm của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam và các bộ, ngành, tỉnh đã phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá ở 2 huyện Hòa An, Hà Quảng và 9 huyện khác, doanh thu từ trồng cây thuốc lá 350 - 400 tỷ đồng/năm. Các địa phương: Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An... đã tập trung phát triển diện tích trồng mía nguyên liệu theo hướng sản xuất hàng hóa, trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn. Diện tích cây mía hằng năm đều tăng, năm 2005, diện tích mía toàn tỉnh 3.232,5 ha, năng suất 617,5 tạ/ha, sản lượng 199.634,9 tấn (trong đó mía nguyên liệu Công ty cổ phần Mía đường Cao Bằng 2.532,5 ha); đến năm 2017, tăng lên 3.328,3 ha, năng suất 611,9 tạ/ha, sản lượng 203.653 tấn (trong đó mía nguyện liệu Công ty cổ phần Mía đường Cao Bằng 2.593 ha). 
 
20181204-l5.jpg
 
Mô hình trồng quýt cho hiệu quả kinh tế cao ở xã Quang Hán (huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng)

Từ năm 2017 đến nay, tỉnh triển khai một số mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ có doanh nghiệp bao tiêu, tiêu thụ sản phẩm ở Cao Bằng đã và đang đạt kết quả tốt. Các mô hình như liên kết doanh nghiệp và nông dân trồng gừng hữu cơ tại huyện Hà Quảng; trồng nghệ hữu cơ tại 2 huyện: Thông Nông, Nguyên Bình; trồng rau an toàn tại 2 huyện Thạch An, Hòa An mang lại thu nhập khá cho người dân... Xây dựng, triển khai các mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm... Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong năm 2017 của tỉnh đạt 3.811 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch, tăng 2,6% so với cùng kỳ; giá trị sản xuất trên 1 đơn vị ha đạt 37 triệu đồng/ha. 

Thực hiện chủ trương về phát triển nông nghiệp, tỉnh đã và đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền việc đăng ký sở hữu trí tuệ đối với các đặc sản dưới hình thức chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể. Tăng cường tư vấn, hỗ trợ các đơn vị, tổ chức và cá nhân đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm của ngành nông nghiệp như: hạt dẻ Trùng Khánh, quýt Trà Lĩnh, miến dong hương rừng Phja Oắc, miến dong Nguyên Bình, chiếu trúc Cao Bằng, lạp sườn Tâm Hòa…, góp phần xây dựng thương hiệu, mở đường cho các sản phẩm nông sản Cao Bằng thâm nhập và mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh.

Chương trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới của tỉnh đặt mục tiêu từ nay đến năm 2020 sẽ nâng cao giá trị và sự đóng góp của ngành nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân ngành nông nghiệp đạt trên 4%/năm; tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế là 19,5%; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 25 triệu đồng (tăng gấp 1,7 lần so với năm 2015).
 
Ngoài ra, từ năm 2003 đến nay, một số xã của huyện Trà Lĩnh đã có nhiều hộ gia đình chủ động đến Trung tâm mua cây quýt giống về trồng và tự phát triển quỹ gen, học tập nâng cao kỹ thuật thâm canh và mở rộng diện tích trồng quýt với quy mô trang trại, hằng năm cung cấp cho thị trường hàng tấn quả. Quýt Trà Lĩnh là giống quýt nổi tiếng được trồng từ lâu đời tại địa phương. Trong đó, quýt Trà Lĩnh được phân chia thành hai loại, loại có núm và loại không có núm, quýt trồng ở đây cho năng suất và chất lượng cao hơn so với các địa phương khác và được thị trường trong tỉnh rất ưa chuộng do độ chua ít, vị ngọt thơm đặc trưng. Các xã trong huyện Trà Lĩnh trồng quýt là khu vực có điều kiện đặc trưng, như: Địa hình đồi núi thấp, đất đỏ, khí hậu chủ yếu là á nhiệt đới và ôn đới thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây quýt, góp phần duy trì hàm lượng các chất dinh dưỡng, mọng nước và làm cho quả có hình thức đẹp hơn, giá bán thường cao hơn từ 10 - 20% so với các loại quýt khác.
 
Với những ưu điểm nổi trội về chất lượng, năng suất cùng với sự nổi tiếng từ rất lâu trên địa bàn tỉnh và một số vùng lân cận, để mở rộng thị trường tiêu thụ và tạo bước ngoặt mới phát triển nghề trồng quýt tại địa phương, từ cuối năm 2013, được sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, UBND huyện Trà Lĩnh đã lập hồ sơ đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm quýt địa phương, hiện nay Cục Sở hữu trí tuệ đang xem xét hồ sơ. Nếu đăng ký thành công và được cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể, quýt Trà Lĩnh sẽ khẳng định được thương hiệu, không bị lẫn với các giống quýt khác như quýt đường, quýt mật, quýt Bắc Kạn hay quýt nhập từ Trung Quốc, người tiêu dùng sẽ biết đến nhiều hơn, người dân có thể mở rộng quy mô trồng theo phương thức sản xuất hàng hóa.
 
Theo số liệu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Lĩnh, từ năm 2005 trở lại đây, nông dân đã chuyển đổi diện tích đất vườn, ruộng cạn từ trồng ngô, khoai sang trồng quýt. Hiện huyện Trà Lĩnh đã nâng tổng diện tích trồng quýt lên gần 60 ha. Trong đó, xã Quang Hán có diện tích trồng nhiều nhất với hơn 30 ha.
 
Trong 2 năm gần đây, quýt Trà Lĩnh có giá bán trung bình từ 30.000 đến 40.000 đồng/kg, những ngày gần Tết, giá lên đến 70 nghìn đồng/kg, đem lại thu nhập khoảng 100 - 120 triệu đồng/ha, nhiều hộ thu nhập từ 100 - 300 triệu đồng/vụ quýt.
 
Trong thời gian qua đã có các đề tài, dự án thực hiện tuyển chọn, phục tráng thành công quỹ gen giống quýt đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để phát triển nghề trồng quýt một cách bền vững, rất cần có sự quan tâm vào cuộc của các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mạnh dạn đầu tư trồng quýt theo hướng sản xuất hàng hóa sạch, tạo việc làm tại chỗ cho dân, góp phần xóa đói giảm nghèo có hiệu quả, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
 
Để chương trình đạt hiệu quả cao, tỉnh tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức sản xuất, nâng cao hiệu quả mô hình kinh tế hợp tác, thu hút các nhà đầu tư, tạo mọi điều kiện vay vốn, liên kết, liên doanh trong sản xuất gắn với thị trường. Đồng thời kêu gọi đầu tư cho công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Xây dựng và triển khai có hiệu quả các chính sách về thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào nông nghiệp; chính sách phát triển vùng sản xuất nông sản; chính sách phát triển kết cấu hạ tầng vùng sản xuất hàng hóa tập trung; chính sách phát triển dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp, như: tiếp cận vốn, bảo quản, chế biến, tập kết, vận tải hàng hóa… phục vụ các hoạt động thương mại nội địa và xuất khẩu. Thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó ưu tiên cải cách thủ tục: đăng ký, thành lập doanh nghiệp, thuế, phí, sử dụng đất đai, tiếp cận thông tin... tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông, lâm nghiệp.

Đăng Quý